
Câu chuyện về người phụ nữ Samaria nhắc nhở chúng ta rằng chỉ mình Đức Kitô mới có thể thực sự thỏa mãn cơn khát sâu thẳm nhất của con người về ý nghĩa, mục đích và tình yêu. Giống như người phụ nữ bên bờ giếng, chúng ta được mời gọi đến với Đức Giêsu, bỏ lại phía sau những tội lỗi và sự trống rỗng của quá khứ, để đón nhận hồng ân nước hằng sống – chính là Chúa Thánh Thần.
Bí tích Thánh Tẩy mở ra con đường cho ân sủng này, ân sủng tuôn chảy trong tâm hồn chúng ta và làm cho chúng ta có khả năng chia sẻ tình yêu của Thiên Chúa với tha nhân. Khi tìm kiếm Đức Kitô, chúng ta khám phá sự viên mãn đích thực và trở nên những chứng nhân cho lòng thương xót và tình yêu ban sự sống của Người.
Khi bước vào Chúa Nhật III Mùa Chay, Hội Thánh bắt đầu những bước chuẩn bị sau cùng cho những người sẽ được lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy trong Đêm Vọng Phục Sinh.
Mục đích của các nghi thức này là vạch trần và chữa lành tất cả những gì yếu đuối, khiếm khuyết hoặc tội lỗi trong tâm hồn của các dự tòng qua các lời nguyện trừ tà, lời chuyển cầu và nghi thức đặt tay. Hôm nay đánh dấu Khảo hạch thứ nhất dành cho các dự tòng, trong đó Hội Thánh hướng họ đến với Đức Giêsu như Nước Hằng Sống. Vì thế, bài Tin Mừng được trích từ Tin Mừng theo thánh Gioan, thuật lại cuộc gặp gỡ với người phụ nữ Samaria bên bờ giếng.
Đoạn Tin Mừng này rất phong phú về ý nghĩa và mặc khải khát vọng sâu xa nhất của mỗi con người. Cũng như dân Do Thái lang thang trong sa mạc trên hành trình tiến về Đất Hứa, chúng ta tìm kiếm điều thiết yếu nhất cho cuộc sống. Trong Bài Đọc I, nước được cho thấy là điều thiết yếu cho sự sống.
Bị dày vò bởi cơn khát, dân chúng đã kêu trách ông Môsê và nói: “Tại sao ông lại đưa chúng tôi ra khỏi Ai Cập? Có phải để cho tôi, con cái tôi và súc vật của tôi phải chết khát hay không?” Dù chúng ta có thể hiểu được nỗi bực tức của họ, nhưng sự thật vẫn là: họ không bao giờ cảm thấy thỏa mãn.
Cũng vậy, chúng ta không bao giờ thỏa mãn với những gì mình có trong cuộc sống, cho dù chúng ta có nhiều đến đâu – kể cả những người giàu có và sở hữu mọi thứ mà tiền bạc có thể mua được. Không có Thiên Chúa, chúng ta sẽ luôn cảm thấy thiếu thốn và không được viên mãn; như thánh Âutinh đã nói: “Lòng chúng ta khắc khoải cho đến khi được nghỉ yên trong Chúa.” Không có Thiên Chúa, chúng ta không thể đạt tới sự viên mãn của sự sống, niềm vui và tình yêu.
Trong Tin Mừng, người phụ nữ Samaria đi đến giếng của tổ phụ Giacóp để lấy nước, nơi cách thị trấn Sychar hơn hai cây số. Chị đang đáp ứng nhu cầu căn bản của mình, nhưng cuộc đời lại trống rỗng. Chị đến đó để lấy nước – thay vì dùng giếng trong thị trấn – nhằm tránh gặp gỡ dân làng, vì chị bị coi là một người phụ nữ mang tiếng xấu.
Sau này chúng ta biết rằng chị đã trải qua nhiều mối quan hệ đổ vỡ, và Đức Giêsu đã vạch ra những vết thương ấy khi nói: “Chị nói đúng: ‘Tôi không có chồng’; vì chị đã có năm đời chồng, và người hiện đang sống với chị không phải là chồng chị.” Bị tổn thương bởi những thất bại ấy, chị sống qua từng ngày mà không có ý nghĩa hay mục đích. Điều này cũng đúng với nhiều người trong chúng ta, những người đang chịu đau khổ vì những mối tương quan đổ vỡ – trong hôn nhân, tình bạn hay nơi công việc. Có người trong chúng ta còn cảm thấy mình là kẻ thất bại vì không thành công, không giàu có hay không nổi tiếng.
Đối với tất cả chúng ta, Đức Giêsu đến để ban Nước Hằng Sống. Người đến để làm cho chúng ta được viên mãn và làm dịu cơn khát của chúng ta. Điều đáng chú ý là Đức Giêsu ngồi bên giếng vào lúc giữa trưa. Thánh sử Gioan thường dùng biểu tượng để diễn tả ý nghĩa và chủ đề: đêm tối tượng trưng cho sự dữ và sự trống rỗng; còn ở đây, giữa trưa tượng trưng cho ánh sáng rực rỡ của chân lý và sự giải thoát.
Vì thế Người nói với người phụ nữ: “Giá chị nhận ra ân huệ Thiên Chúa ban, và ai là người nói với chị: ‘Cho tôi xin chút nước uống’, thì hẳn chị đã xin, và Người đã ban cho chị nước hằng sống.”
Người còn nói điều đó một lần nữa tại Đền Thờ trong Lễ Lều: “Ai khát, hãy đến với tôi mà uống. Ai tin vào tôi, thì như Kinh Thánh đã nói: từ lòng người ấy sẽ tuôn chảy những dòng nước hằng sống.” (Ga 7,37tt). Và ngay trước khi trút hơi thở trên thập giá, Người lại nói: “Tôi khát.” (Ga 19,28)
Như thế, Đức Giêsu không chỉ khát theo nghĩa thể lý – Người khao khát ban cho chúng ta Nước Hằng Sống.
Nước hằng sống ấy là gì? Chúa nói với người phụ nữ: “Ai uống nước này sẽ còn khát lại; còn ai uống nước tôi cho thì sẽ không bao giờ khát nữa: nước tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời.” Vì thế, nước hằng sống này không chỉ làm dịu cơn khát của chúng ta, mà còn trở thành nguồn mạch bên trong, giúp chúng ta có thể ban nước cho người khác.
Điều đó còn có thể là gì, nếu không phải là Chúa Thánh Thần – Thần Khí của Thiên Chúa được đổ tràn vào lòng chúng ta? Khi chúng ta có tình yêu, tình yêu ấy sẽ lớn lên. Càng trao ban tình yêu, chúng ta càng gia tăng khả năng yêu thương. Đó chính là điều thánh Phaolô nói trong thư gửi tín hữu Rôma: “Niềm hy vọng không làm chúng ta thất vọng, vì tình yêu của Thiên Chúa đã được đổ vào lòng chúng ta nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta.” Và Thánh Thần này, cách nền tảng, đã được ban cho chúng ta từ thập giá. Vào giây phút Người qua đời, thánh Gioan viết: “Khi Đức Giêsu đã nhận giấm, Người nói: ‘Thế là đã hoàn tất.’ Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.” (Ga 19,30)
Chính vì thế mà trình thuật người phụ nữ Samaria được chọn để chuẩn bị các dự tòng lãnh nhận Bí tích Thánh Tẩy trong Đêm Vọng Phục Sinh. Qua bí tích này, họ sẽ được thanh tẩy bằng nước và lãnh nhận hồng ân Chúa Thánh Thần. Tuy nhiên, nước của phép rửa chỉ trở thành kênh thông chuyển ân sủng của Thiên Chúa nhờ cái chết và sự phục sinh của Đức Kitô.
Chúa Thánh Thần đã được ban cho Hội Thánh vào lúc Đức Kitô chết trên thập giá, nhưng hồng ân ấy được biểu lộ trọn vẹn sau Phục Sinh, khi Đức Giêsu ban Thánh Thần cho các Tông đồ. Cũng vậy, chỉ khi chúng ta được chịu phép rửa trong Đức Kitô Giêsu, Chúa Thánh Thần mới được ban cho chúng ta và đến cư ngụ trong chúng ta.
Thật vậy, khi chúng ta đón nhận Đức Giêsu vào cuộc đời mình, Người không chỉ ban cho chúng ta tình yêu của Người, nhưng còn mặc khải sự thật về chính chúng ta. Cũng như Người đã cho người phụ nữ thấy những trở ngại khiến chị không thể tìm được sự sống, và dạy chị thế nào là thờ phượng đích thực trong Thần Khí và sự thật, chị đã được giải thoát khỏi nỗi sợ hãi và sự u mê của mình. Chị khám phá ra căn tính đích thực của Đức Giêsu là Ngôn sứ và Đấng Mêsia. Từ giây phút ấy, chị có thể thoát khỏi quá khứ của mình. Biết Đức Giêsu chính là điều giải thoát chúng ta.
Vì thế, để đón nhận tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta phải sẵn sàng bỏ lại chiếc vò nước của mình, như người phụ nữ đã làm. Sau khi gặp Đức Giêsu, “người phụ nữ bỏ vò nước lại, chạy vào thành và nói với dân chúng: ‘Đến mà xem: có một người đã nói với tôi tất cả những gì tôi đã làm; ông ấy không phải là Đấng Kitô sao?’” Chúng ta cũng phải sẵn sàng bỏ lại tội lỗi, nỗi sợ hãi và quá khứ của mình nếu muốn đón nhận nước hằng sống này. Như thánh Âutinh nhắc nhở: nếu chúng ta muốn Thiên Chúa đổ rượu mới vào trong mình, chúng ta cần thanh tẩy chiếc vò khỏi chất cũ. Vì thế hôm nay chúng ta phải quyết tâm từ bỏ tội lỗi. Từ nay, chúng ta phải giống Đức Giêsu, chỉ tìm kiếm và thi hành thánh ý Thiên Chúa. Đức Giêsu nói: “Lương thực của tôi là thi hành ý muốn của Đấng đã sai tôi và hoàn tất công trình của Người.”
Chúng ta không cần phải sợ Thiên Chúa sẽ từ chối mình. Thật vậy, Tin Mừng cho thấy Đức Giêsu vượt qua mọi rào cản thù nghịch và định kiến giữa Người và chúng ta. Người đã chủ động đến với người phụ nữ, bắt đầu cuộc đối thoại và hạ mình xuống ngang tầm với chị. Đức Giêsu đối thoại với chị một cách chân thành và đầy nhạy cảm.
Người phá vỡ mọi rào cản xã hội và tâm lý khi nói chuyện với một phụ nữ nơi công cộng – điều trái với tập tục thời đó – và khi dùng chung dụng cụ của một người Samaria để uống nước. Người cũng vượt qua cả những rào cản tôn giáo. Chúng ta cũng phải đến với Chúa như người phụ nữ Samaria, để cảm nghiệm niềm vui được giải thoát và khám phá căn tính đích thực của mình là con cái Thiên Chúa.
Nếu chúng ta can đảm, cuộc đời chúng ta sẽ được biến đổi tận căn khi gặp gỡ lòng thương xót của Thiên Chúa trong Đức Kitô. Giống như người phụ nữ ấy, chúng ta sẽ chạy vào thành và kể cho mọi người nghe về kinh nghiệm phi thường của mình, trở nên những người loan báo Tin Mừng cho Chúa.
Thật vậy, “nhiều người Samaria trong thành đó đã tin vào Người vì lời chứng của người phụ nữ... Khi họ đến gặp Người, họ xin Người ở lại với họ. Và khi Người nói chuyện với họ, nhiều người nữa đã tin. Họ nói với người phụ nữ: ‘Giờ đây chúng tôi tin, không phải vì lời chị kể, nhưng vì chính chúng tôi đã nghe và biết rằng Người thật là Đấng Cứu Độ trần gian.’”
Quả thật, mọi cuộc gặp gỡ với Đức Giêsu đều làm thay đổi cuộc đời. Khi chúng ta gặp Đức Giêsu, mọi sự khác trở nên thứ yếu – giống như chiếc vò nước. Chỉ có tình yêu Thiên Chúa là điều quan trọng nhất.
Vì thế, chúng ta hãy bỏ lại chiếc vò nước nội tâm của mình và tìm kiếm Đức Giêsu, để khám phá lại Chúa và canh tân tình yêu của chúng ta đối với Người. Đó chính là ý nghĩa của đời sống và chứng tá Kitô hữu: bước vào niềm vui của Chúa và chia sẻ niềm vui ấy cho tha nhân.
Lm. Giuse Nguyễn Trường Thạch Sdb

Hôm nay, câu hỏi ấy không còn là của Phêrô nữa. Nó là câu hỏi của chính ta. Khi Chúa đến trong những hoàn cảnh rất cụ thể: một người làm ta khó chịu, một biến c

NAN GIẢI CỦA VIỆC KHÔNG THỂ THA THỨ Sự tha thứ nằm ngay nơi trung tâm của đức tin Kitô giáo. Thế nhưng, nhiều người vẫn phải vật lộn với nan đề khi họ không thể

HÃY ĐỨNG LÊN VÌ CHÚA GIÊSU VÀ VƯƠNG QUỐC CỦA NGƯỜI BÀI ĐỌC KINH THÁNH: [Gr 7,23-28; Tv 94,1-2.6-9; Lc 11,14-23] Hôm nay, chúng ta được mời gọi đứng lên vì Chúa

BƯỚC ĐI TRONG ÁNH SÁNG CỦA TÌNH YÊU BÀI ĐỌC: [Gr 18,18-20; Tv 31,5-6.14-16; Mt 20,17-28] Điều quan trọng là mỗi người chúng ta phải có một định hướng cho đời mì